Tìm kiếm
Trang chủ Góp Ý Liên Hệ a a
Hoạt động của đơn vị

Biển đảo Việt Nam
Giới thiệu đơn vị
Cải cách hành chính
Xét tuyển viên chức
Văn bản chuyên ngành
Tin tức chuyên ngành
Xúc tiến nông nghiệp
Hội chợ-Hội thi giống
Chuyển giao KHKT
Mô hình kinh nghiệm
Tư liệu nghiên cứu
Chuyển dịch CCSXNN
Cơ sở sản xuất giống
Nguồn gen vật nuôi bản địa Việt Nam Việt Nam: Ngựa, Hươu, Nai, Dê và Cừu

Tập đoàn ngựa bản địa

Hiện nay trên miền Bắc Việt nam có các loại ngựa ngoại như Carbadin, ngựa Lùn được nhân giống và phát triển tại Trung tâm NC và PT chăn nuôi Miền Núi, Thái nguyên (cơ quan này thuộc Viện chăn nuôi). Tại Miền nam có các dòng ngựa đua được nhập từ các nước và phục vụ các cuộc đua tại trường đua Phúc thọ. Nay trường đua này ngừng hoạt động và tại vùng Đức huệ (Đức hòa, Long an) vẫn đang có 600 con ngựa đang được dân nuôi dưỡng.

Còn Việt nam có hai giống (dòng?) ngựa bản địa được phân biệt. Đó là ngựa thường và ngựa bạch.

Số lượng đàn ngựa toàn quốc theo Trung tâm NC Ngựa và Trâu Bá vân (Viện chăn nuôi) là khoảng 500 000 con.

Ngựa thường (còn gọi là ngựa ta)

Ngựa thường nhỏ con, có màu sắc khá đa dạng. Có nhiều tại Miền núi phía Bắc như Cao bằng, Lào cai... Thí dụ tại xã Hữu Kiên (Lạng sơn) đàn ngựa có 1100 con.

Nhưng tại hai huyện Tri tôn và Tịnh biên (An giang) cũng có một đàn ngựa nhỏ khoảng 60 con, chủ yếu kéo xe. Tuy nhiên đàn này đang già đi và đặc biệt rất ít ngựa đực. Đàn này có thể chỉ tồn tại trong 3-5 năm nữa.

Số ngựa lai giữa ngựa ngoại và Việt nam nói chung là ít. Tại huyện Bắc Hà (Lào cai) đàn ngựa địa phương có một số bị lai với ngựa Carbadin.

Ngựa dùng để thồ. Thịt ngựa không được tiêu thụ chính thức mà được làm giả thịt bò. Làng Bình đà (Thanh oai, Hà nội) có tiếng về việc mổ thịt ngựa và bán dưới “vỏ” thịt bò). Có các lễ hội đua ngựa hàng năm tại Bắc hà (Lào cai).

Ngựa Trung quốc cũng được nhập vào Việt nam qua các đường tiểu ngạch hoặc trao đổi giữa các cộng đồng hai bên biên giới Việt - Trung.

Đã có khá nhiều nghiên cứu về ngựa và lai tạo. Tuy nhiên đến nay ngựa lại không chiếm nhiều trong tập đoàn ngựa Việt nam. Trong mấy năm gần đây không có những dự án / đề tài lớn nghiên cứu về ngựa thường ở Việt nam.

Ngựa bạch

Một dòng (giống?) của ngựa VN là Ngựa bạch tạng (albino) - thường được gọi là ngựa bạch, được xem là nguồn gen đặc biệt, được sử dụng để làm thuốc và thực phẩm chức năng (cao, thuốc).

Các bằng chứng khoa học thu được qua các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, ngựa bạch  (albino) là một dạng bệnh sắc tố của ngựa, gọi là bạch tạng (trong các loài người và động vật khác đều có). Đặc điểm là lông da trắng, các hốc mũi, mắt, đít... đều màu hồng. Con của chúng (đồng hợp tử) sẽ bị chết trong lúc còn trong bụng mẹ (Xem: https://en.wikipedia.org/wiki/White_horse).

Tuy nhiên tại Trung tâm NC Ngựa và Trâu Miền núi (đóng tại Thái nguyên) của Viện chăn nuôi cho biết 27 con được sinh ra thì 25 con là “ngựa bạch” còn 2 con thì có mắt đen.... Trong nghiên cứu này chi tiết các bố mẹ không được nêu (bao nhiêu con đực / con cái...).Hiện nay đang có một dự án nghiên cứu và khai thác nguồn gen ngựa bạch do Trường ĐH Thái nguyên chủ trì, kéo dài 5 năm với kinh phí 2,1 tỉ đồng để chọn lọc dòng thuần bạch (?). Đơn vị từng có những nghiên cứu lâu đời về nó là Trung tâm NC trâu và ngựa Bá vân (thuộc Viện chăn nuôi). Kết quả ban đầu cho thấy khi phối các ngựa bạch với nhau cũng đẻ ra con không “ngựa bạch” hoặc phối ngựa bạch và không bạch cũng cho ra con cái này-nọ. Như vậy so với các tài liệu quốc tế thì vấn đề ngựa bạch ở nước ta là một đề tài cần được nghiên cứu.

Dẫu sao đây là một dạng hiếm và sản phẩm của nó mang tính “truyền thống” thí dụ như cao ngựa. Trong dân gian cao ngựa bạch được xem là một loại dược phẩm quý, nên giá khá đắt: 40-60 triệu đồng / con (giá 2012) trong lúc đó ngựa thường chỉ giao động từ 10-20 triệu đồng / con. Cao Ngựa bạch Chu Việt do CT Chu việt sản xuất là một chế phẩmhttp://www.caoxuongngua.com.vn/vietnam/). Chưa có một nghiên cứu khoa học nào về giá trị dược phẩm của cao – thịt ngựa này. Đó cũng thể là lý do trong tương lai nó có thể không được “quý” như hiện nay và “số phận” của chúng cũng có thể như thể các loại “dược phẩm” mật gấu, sừng tê giác...     

Số lượng ngựa bạch khoảng 1000 con. Nuôi nhiều tại xã Hữu Lũng (huyện Chi lăng) Lạng sơn – khoảng 260 con trong tổng số 1100 con ngựa các loại), Xã Tức tranh (Phú lương, Thái nguyên), xã Phục hưng (Đại từ, Thái nguyên), Xã Tân yên, Hiệp hòa (Bắc giang), xã Tân sơn (Yên thế), huyện Na rì (Bắc cạn). Một số doanh nhân tại Hà nội cũng nuôi loại này.

Tại huyện Bảo lâm và Bảo lạc có cả ngựa bạch mang về từ Trung quốc.  

Các nguy cơ mất: bệnh tật và rét về mùa đông.

Các nguy mất đa dạng: Sử dụng ít ngựa đực.

Nguy cơ lai tạp: Với ngựa bạch Trung quốc.

Tập đoàn dê bản địa

Các giống dê nhập ngoại vào nước ta là dê Boer (Mỹ), Bettal, Jampapury Ấn độ, dê sữa Thụy sĩ với số lượng ít dùng để lai tạo.

Việt nam có 2 giống dê bản địa chính: Dê cỏ (cả nước) và dê Bách thảo (Ninh thuận). Tuy nhiên gần đây Đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt nam có đăng ký thêm một giống “Dê ré núi đá” có nguồn gốc từ tỉnh Ninh bình.

 Dê cỏ

Một nghiên cứu về đa dạng di truyền dựa trên phân tích microsateliite quần thể Hà giang được Đỗ Ngọc Duy và CS (2008) cho thấy có 3 nhóm: Đồng văn – Mèo vạc/Quản bạ - Xín mần/Hoàng Su phì. Kết quả này gợi ý cho thấy có thể có rất nhiều nhóm di truyền trong tập đoàn dê cỏ Việt nam rải từ Nam tới Bắc.

Chưa có một ý định nào để nghiên cứu các gen đặc hữu nào trên các giốngdê ở VN. Trong lúc đó trên các giống dê Ấn độ các nhà khoa học Cục Bảo tồn NGVN Ấn độ đã phân lập được cách hormon sinh trưởng GH4 và GH5.

Dê là một con vật được nông dân ưa dùng vì có thể thả rông, tận dụng thức ăn. Tuy nhiên cũng có những giai đoạn được xem là “giặc dê” vì ăn lộc cây và phá nhanh rừng núi. Có những xã nuôi rất nhiều như xã Hữu kiên (Lạng sơn) có đến 2500 con.

Số lượng dê bản địa từ 571,9 nghìn con năm 2001 tăng lên 1525 ngàn con năm 2006, tốc độ tăng đàn bình quân là 21,67%/năm. Đến năm 2008 có xu hướng giảm với số lượng 1483 nghìn con năm 2009 giảm xuống chỉ còn 1375 nghìn con giảm 9,3%/năm. Nguyên nhân giảm do bệnh dịch, bãi chăn thả ngày càng thu hẹp, thị trường tiêu thụ không ổn định. Tuy nhiên đến nay số lượng đàn dê đang phát triển ổn định.

Tuy nhiên tại một vài nơi như Ninh bình, tình hình lại khác. Mấy năm nay ở đây bán được thịt dê nhiều cho khách du lịch, nên cung không đủ cầu và phải nhập từ nơi khác nhưng vẫn được gọi là “Dê dé Ninh bình”. Như vậy từ gó độ bảo tồn cần phải giám định và tạo nên một đàn đúng với giống / quần thể trước khi lai tạp.

Những khảo sát tại Ninh bình, Ninh thuận và Quảng nam của chúng tôi đưa ra một số nhận xét sau:

Dê cỏ khá được ưa chuộng vì thịt ngon, dễ nuôi (chủ yếu tận dụng thức ăn tự nhiên).

Các loại dê lai khá ít. Tại Quảng nam một số hộ nuôi dê lai cỏ và Bách thảo và Ấn độ cho thấy khá tốt nhờ ưu thế lai. 

Nguy cơ giảm số lượng:

Trước đây có nhiều nghiên cứu về nó. Tuy nhiên mấy năm gần đây không có những dự án lớn / đề tài lớn nghiên cứu về đối tượng này đặc biệt là dê bản địa. Một vài nghiên cứu dê ngoại và dê sữa:

  • Nghiên cứu, chọn lọc lai tạo giống dê sữa, thịt có năng suất cao phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở gia đình Việt Nam (Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam thực hiện).
  • Nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống dê sữa có năng suất cao (700-1000 lít /cái /năm) (Trung tâm NC Dê và Thỏ Sơn tây thực hiện)

Chết vì bệnh nhiều, thí dụ như tại Ninh bình có năm chết ½ do bệnh đậu mùa. Giảm đàn: do diện tích rừng và chăn thả bị thu hẹp. Tại Tuyên quang, việc mở rộng đàn dê càng khó hơn, do “phá”. Chỉ có hộ nào có rừng đất rộng mới nuôi riêng được. Một khi đông đàn dê càng kéo nhau đi ăn xa và đó cũng là một trong yếu tố khó phát triển thêm.

Nguy cơ giảm đa dạng: Vì dê cũng như bò được nuôi nhốt và thả  trên các khu vực riêng của các hộ mà không thả rông trên diện rộng nên việc trao đổi đực giống ít đi. Tiếp nữa 1 đàn 20 chục con dê cái chỉ có 1-2 đực, nên khả năng đồng huyết xẩy ra cao.

Những yếu tố bất lợi cho các giống bản địa vào thị trường hiện nay vẫn là các yếu tố được xác định từ lâu và vốn là cửa để các giống công nghiệp đổ vào VN, đó là:

- Năng suất thấp

- Không đồng đều, khiến cho việc chăm sóc, chế biến không thể “công nghiệp hóa” để giảm giá thành.

 Dê Đá (Ré) Ninh bình

Cũng chưa có một nghiên cứu nào công bố liệu khác nhau nào giữa quần thể dê này với dê cỏ nói chung và cũng không rõ đàn dê nào nằm trong chương trình bảo tồn. Tuy nhiên trong lần điều tra riêng của chúng tôi, thấy rằng trong mấy năm gần đây thịt dê bán vùng này bán được giá cho khách du lịch. Có lẽ trước đây có những đàn dê đúng với thương hiệu đó. Nhưng nay các loại dê khác nhau được đưa về đây và đội lốt dê này. Cần phải tìm lại các cá thể dê gốc để bảo tồn trước khi nó bị pha tạp. Đây cũng là bối cảnh chung như thể trâu Chiêm hóa (Tuyên quang).

 Dê Bách thảo

Là một giống dê ở vùng Ninh thuận, có khả năng sản xuất sữa ở Việt nam với năng suất 1 kg / ngày và thời gian cho sữa là 170 ngày. Năm 2012 còn 62000 con. Đã có một số thử nghiệm chăn nuôi dê lấy sữa tại Trung tâm NC Dê và Thỏ Ba vì (Viện chăn nuôi). Tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở trung tâm này mà không phát triển rộng được mặc dù đó là loại sữa quý không những cho dinh dưỡng cao cấp mà còn cho nữ giới “bồi dưỡng” da. Tại VN cũng đã xuất hiện sữa dê Danlait từ Pháp. Dê Bách thảo dùng để lai với dê có. Tuy nhiên dê Bách thảo không được phổ biến và cũng chỉ lưu lại ở vùng Ninh thuận, Cần có điều tra lại giống dê này.

Tập đoàn cừu bản địa

Việt Nam có một giống cừu bản địa duy nhất tại Ninh thuận đó là Cừu Phan rang do người Chà là nuôi từ lâu. Giống này được cho là có nguồn gốc từ Ấn độ. Những năm 2000 một số ít được chuyển về Trung tâm NC Dê và Thỏ Sơn tây. Và rồi chúng được nuôi thử tại một số nơi tại Miền bắc. Chúng không được ưa chuộng lắm do phải chế biến phức tạp hơn để đánh mất mùi hoi của thịt cừu.

Cừu Phan rang có hai màu: Nâu và vàng.

Tại Phan rang hai giống White Spot và cừu Droper từ Úc được nhập. Công việc lai tạo này các giống này với cừu Phan rang mới có từ 2007, nhưng đến nay hầu như toàn bộ  tập đoàn cừu 20 ngàn con tại Phan rang đã là con lai. Đàn lớn nhất có đến 600 con. Năm 2011, đã xuất bán khoảng 1600 tấn thịt hơi.

Chỉ còn duy nhất 36 con cừu Phan rang thuần tại do Trung tâm giống vật nuôi Ninh thuận nuôi giữ tại trại Nha hố. Tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Ba vì, còn khoảng 100 con cừu Phan rang thuần.

Cừu lai có năng suất cao hơn cừu Phan rang thuần. Nhưng đó là con lai F1 - tức thế hệ lai có ưu thế lai cao và được ưa chuộng. Đương nhiên nếu tiếp tục lai thì thế hệ F3, F4... sẽ không còn ưu thế lai như thế nữa. Và đặc biệt nếu ở đây lại xẩy những vụ khô hạn mà bò chết hàng loạt, cừu Phan rang thuần vẫn sống, thì liệu cừu lai sẽ như thế nào?.

Đề nghị: Cứu hộ.

Hươu sao và nai

Hươu sao được nuôi đầu tiên từ những năm 1920, tại Hương sơn (Hà tĩnh). Ngày xưa chỉ có nhà giàu nuôi lấy lộc và làm cảnh. Còn nay hươu được nuôi đại trà. Hiện giống này đã lan tràn cả nước, nhưng tập trung ở các vùng Hương sơn (Hà tĩnh), Quỳnh lưu (Nghệ an), Vĩnh cửu (Đồng nai), và Lâm đồng. Ước tính khoảng 200 000 con.

Mặc dù xuất phát từ nước ngòai và được nuôi trong dân từ 1920 đến nay, nhưng vẫn được xem là hoang dã.

Hươu sao được nuôi để lấy nhung là chính, và thịt là phụ. Nhung được dùng như thuốc dân gian, bổ sức khỏe, tăng “sinh khí tình dục”. Trước đây, khi đời sống nhân dân khấm khá, hươu bán được khá nhiều. Hiện nay (2012) đã có dấu hiệu “chựng lại” Các lý do của sự cố này, là đời sống giảm xuống. Nhưng bản chất cái khó của loại hàng này là: hàng giả, rất nhiều người không phân biệt được nhung hươu thật và giả (mặc dù làm nhung giả rất khó). Nên đã xảy ra hiện tượng: nếu khách thấy trực tiếp nhung hươu được cắt thì giá bán có khi đến 20 triệu / kg. Nhưng mua nhung đã cắt và bảo quản trong tủ lạnh thì giá bán chỉ là 10 triệu và thậm chí 5-8 triệu /kg như hiện nay!. Vì ít không có sản phẩm chế biến hoặc có nhưng không đủ tin (nhung sấy, bột sấy, rượu nhung...) nên khó bán. Một vài đề tài dự án đã đưa ra như chế biến thành viên như Công ty Lâm nghiệp Hương sơn, nhưng cũng chỉ dừng lại “mẫu...” để nghiệm thu đề tài.  

Bên cạnh đó lượng nhung được các nước ngoài (Australia) sản xuất khá nhiều và sẵn sàng bán cho VN giá rẻ, vì ở đó nhung ít giá trị hơn thịt.

Nguy cơ tuyệt chủng: Bệnh LMLM, bệnh lạ mà đàn hươu huyện Quỳnh lưu bị mắc năm 2011 và chết 10%.

Nguy cơ lai tạp: chưa có.

Nguy cơ giảm sự đa dạng: vì đực và cái được nuôi ngang nhau nên ít nguy cơ giảm sự đa dạng, tuy nhiên không có sự trao đổi giữa các vùng nhiều nên vẫn xẩy ra đồng huyết.

Hươu sao cũng là một đối tượng được nghiên cứu và đầu tư khá nhiều. Tuy nhiên 5 năm gần đây không có.

Nai

Có nuôi nhiều ở vùng Lâm đồng và rải rác ở các vùng có nuôi hươu sao. Số lượng khoảng 5 000 con. Cái khó cho loài này là nhung quá lớn (> 2kg) và khó bán lẻ hơn cho thực khách thường thích mua ít (như hươu).

Số lượng hai loài này theo Cục chăn nuôi là:

2001

2002

2003

2004

2005

14 876

10 918

15 320

20 597

20 239

 

Võ Văn Sự, Phạm Công Thiếu, Hoàng Văn Tiệu

Nguồn Viện Chăn nuôi

Các tin liên quan
Tin nổi bật a

Số 4A181 Thanh Niên, ấp 4, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, TP HCM
Tel: 02.837.685.374;      Fax: 02.837.685.374

Email: ttqlkdg.snn@tphcm.gov.vn
@Copyright 2017 TTGCTVNTS, All right reserved