Tìm kiếm
Trang chủ Góp Ý Liên Hệ a a
Hoạt động của đơn vị

Giới thiệu đơn vị
Biển đảo Việt Nam
Xét tuyển viên chức
Văn bản chuyên ngành
Tin tức chuyên ngành
Xúc tiến nông nghiệp
Hội chợ-Hội thi giống
Chương trình, Đề án
Mô hình kinh nghiệm
Tư liệu nghiên cứu
Chuyển dịch CCSXNN
Cơ sở sản xuất giống
Những điểm cần xem xét để đảm sự phát triển cho bò hậu bị giống Holstein

Michael Looper, Chuyên gia khuyến nông ngành sữa; Greg Bethard, Chuyên gia dịch vụ kỹ thuật, Tổ chức “Kinh doanh sữa  Monsanto”, Trường Đại học Kinh tế Nông nghiệp và Gia đình.

Mục lục

Contents

1.       Tại sao phải là 569 kg?. 2

2.       Tại sao phải là 24 tháng?. 3

3.       21 tháng có nghĩa gì?. 3

4.       Đạt được 569 kg ở 24 tháng tuổi 4

5.       Từ cai sữa đến phối giống. 5

6.       Tuổi phối giống bê. 6

7.       Từ phối giống tới đẻ. 7

8.       Giám sát tăng trọng lượng. 7

9.       Khẩu phần. 8

10.        Tính kinh tế của 1250 bảng và 24 tháng. 9

11.        Tóm lược. 10

13.       Tài liệu tham khảo. 11

 

 Ghi chú: Trong bản tài liệu gốc đơn vị của khối lượng là lbs, của chiều cao là inch và của tiền là USD. Trong bản dịch này tôi đã chuyến đổi các đơn vị như sau ra đơn vi VN: 1 lbs = 0,455 kg, 1 inch = 2,54 cm  và 1 USD = 23 000 VND. Các đơn vị trong các biểu đồ cũng được đổi lại tương ứng.  

Vai trò của bò hậu bị là thay thế bò bị thải loại và qua đó có thể nâng cao tiến bộ di truyền cho đàn. Bò lứa sữa đầu góp phần đáng kể cho sản lượng sữa và mang lợi nhuận cho người chăn nuôi. Một mục tiêu được khuyến nghị đối với bò hậu bị là đẻ ở 24 tháng tuổi và đạt khối lượng cơ thế 569 kg sau khi đẻ. Đã có một quan niệm sai lầm phổ biến là mục tiêu này hoặc không thể đạt được hoặc không kinh tế. Nuôi bò tơ đạt tăng trọng nhanh hơn cũng đòi hỏi chi phí nhiều hơn, nhưng sự phát triển của chúng cần cho tương lai. Các chương trình nuôi bò hậu bị cần đạt được mục đích về tuổi và khối lượng  với chi phí tối thiểu.

1.    Tại sao phải là 569 kg?

Tại sao người chăn nuôi cần phải phấn đấu cho một mục tiêu là bò hậu bị phải đạt 569 kg sau khi đẻ? Một nghiên cứu lớn được tiến hành tư 1980 đến1984 trên lý lịch bò do Tổ chức thông tin bò sữa quốc gia Mỹ (DHIA), thấy rằng bò Holstein đẻ lứa đầu có khối lượng giữa 544 và 569 kg cho năng suất sữa lứa đầu cao nhất (Keown và Everett 1986). Tầm quan trọng của việc đạt được các mục tiêu trọng lượng được minh họa bởi sự suy giảm đáng kể trong sản lượng sữa khi trọng lượng sau đẻ là dưới 1.100 pound (Hình. 1). Bò sữa lứa đầu nặng 569 kg sản xuất được nhiều hơn 808 kg sữa so với bò cùng lứa nhưng chỉ nặng 410 kg. Khối lượng cơ thể lúc đẻ có ảnh hưởng đến năng suất sữa nhiều hơn là tuổi, cho thấy bò nên phối giống theo khối  lượng chứ không phải theo tuổi.

Hơn 50.000 hồ sơ bò từ Virginia do DHIA quản lý đã được phân tích mối quan hệ giữa tuổi đẻ đầu tiên, khối lượng cơ thể sau đẻ với sản lượng chu kỳ đầu (Bethard 1997). Kết quả cho thấy sản lượng sữa đầu tiên cao nhất đối với nhóm bò có khối lượng cơ thể sau đẻ là khoảng 546-592 kg, độc lập với tuổi (Hình 2). Tuy nhiên, sản lượng sữa giảm khi trọng lượng cơ thể sau đẻ vượt quá 592 kg, cho thấy rằng bò hậu bị nuôi quá mức có năng suất sữa thấp  hơn bò nuôi đúng mức.

Kết quả nghiên cứu trên ủng hộ cho mục tiêu thể trọng cần đạt 546- 569 kg sau đẻ lứa 1. Lưu ý rằng khối lượng sau đẻ là 546- 569 kg đòi hỏi khối lượng 592-614 kg trước đẻ. Bò hậu bị nặng cân hơn sản xuất nhiều sữa hơn so với bò nhẹ cân vì chúng chỉ cần tăng trọng ít hơn để đạt được kích thước cơ thể trưởng thành, vì vậy các chất dinh dưỡng có thể được sử dụng để sản xuất sữa thay vì để tăng trưởng. Bê nhỏ hơn cũng có thể ăn được ít hơn do không cạnh tranh được với bê to con hơn nếu chúng được cho ăn tự do cùng chỗ.

Bò có điểm thể tạng cao hơn cũng sản xuất sữa kém hơn (Hình. 2). Bò béo có thể dễ mắc bệnh gan nhiễm mỡ - bệnh mà có thể dẫn đến ketosis và ăn giảm đi. Bò béo cũng cũng cho sữa kém và đẻ hoặc hoạt động cũng khó khăn hơn (Hoffman et al. 1996).

Hình 1. Ảnh hưởng của khối lượng cơ thể sau đẻ đến sản lượng sữa tương đối ở chu kỳ đầu (nguồn từ Keown và Everett, 1986).

2.    Tại sao phải là 24 tháng?

Một tiêu chuẩn được hình thành là bò hậu bị nên đẻ lần đầu ở tuổi 23- 26 tháng. Bò đẻ sớm có tuổi sản xuất sữa nhiều hơn là bò đẻ muộn. Một khoản đầu tư lớn (26,45 đến 27,60  triệu VND)  để nuôi một bò sữa từ lúc sinh tới đẻ lứa 1, tính ra hàng tháng đến 1,265 – 1,495 triệu VND (Keown và Everett 1986). Bò được đưa vào khai thác sữa sớm lấy lại vốn đầu tư ban đầu sớm hơn. Tuổi đẻ lứa đầu tăng lên làm tăng đáng kể chi phí nuôi. Tuổi đẻ lứa đầu tăng  một ngày làm tăng thêm chi phí bằng 13 lần so với tăng một ngày trở lại động dục sau đẻ (Cady và Smith 1996). Đẻ bị trì hoãn quá 24 tháng có thể làm tăng chi phí nuôi mỗi tháng là 1,150 triệu VND (Smith 1993).

Số lượng bò hậu bị cần thiết - để duy trì cơ số đàn - sẽ tăng lên một khi tuổi đẻ muộn (Bảng 1). Giả sử tỷ lệ loại thải 30%, tuổi đẻ lứa đầu tăng từ 24 lên 28 tháng thì cần thêm 11% bê cái để duy trì cơ số đàn, hay cũng là cần thêm 110 cho đàn bò 1000 con. Ngược lại,  nếu giảm tuổi đẻ từ 28 xuống 24  tháng ta sẽ có thừa 110 con để bán. Tuổi đẻ lần đầu 22,5 - 23,5 tháng sẽ tối đa hóa năng suất toàn đời của bò (Gill và Allaire 1976).

3.    21 tháng có nghĩa gì?

Đẻ trước 21 tháng có thể là một lựa chọn rủi ro do các vấn đề liên quan đến sự tăng trọng nhanh chóng.Thể trọng – chứ không phải là tuổi–lúc đẻ, là nhân tố chính ảnh hưởng đến sản lượng sữa đầu tiên. Nếu bò đẻ đầu lúc là 21 tháng tuổi thì tăng trọng phải là 0,91 kg/ngày từ khi sinh ra đến lúc đẻ đối với loại bê tơ giống to con. Để giảm tuổi đẻ xuống 21 tháng, tuổi phối đầu tiên phải được giảm xuống 11-12 tháng, điều mà sẽ đòi hỏi dậy thì  tăng nhanh quá mức để đạt được khối lượng cơ thể phối giống. Tăng trọng vượt quá 0,91 kg /ngày có thể gây hại cho sự phát triển tuyến vú ở bò hậu dưới 12 tháng tuổi (Sejrsen et al. 1982).

Hình 2. Dự đoán sản lượng sữa lứa đầu ở bò cái Holstein ở
trọng lượng cơ thể khác nhau lúc 20, 22, 24, 26, 28, và 30 tháng tuổi đẻ.

Tỉ lệ
thải %

Tuổi đẻ đầu tiên (tháng)

22

24

26

28

30

32

34

36

20

40

44

48

51

55

59

62

66

22

44

48

52

56

61

65

69

73

24

48

53

57

62

66

70

75

79

26

52

57

62

67

72

76

81

86

28

56

62

67

72

77

82

87

92

30

61

66

72

77

82

88

94

99

32

65

70

76

82

88

94

100

106

34

69

75

81

87

94

100

106

112

Bảng 1. Số bò cần thay thể cho đàn bò 100 con ở các lứa tuổi đẻ đầu và tỉ lệ thải loại khác nhau.

4.    Đạt được 569 kg ở 24 tháng tuổi

Bê phải tăng được trung bình là 0,774 – 0,819kg/ ngày từ lúc sinh ra để đạt được 614kg trước lúc đẻ. Tổng chi phí thức ăn từ lúc cai sữa đến lúc đẻ để đạt tăng trọng 0,774 kg/ ngày -  ít hơn so với mục tiêu 0,591-0,683 kg /ngày (Bảng 2). Lưu ý rằng, 569 kg sau đẻ thì trước đẻ là 614 kg. Mục tiêu này có thể đạt được với cách chăn nuôi chuyên nghiệp, thậm chí cần ít phương tiện và chất lượng thức ăn.

5.    Từ cai sữa đến phối giống

Tuổi dậy thì liên quan chặt chẽ với thể trọng. Tuổi thành thục sinh dục của bê cái Holstein bắt đầu vào khoảng 250-296 kg, không phụ thuộc vào tuổi. Do đó, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến tuổi dậy thì và phối giống đầu tiên. Tăng trọng lượng cơ thể quá ít hoặc quá nhiều trong giai đoạn sinh trưởng này đều bất lợi.

Thể trong thấp là một sự cố. Tăng cân thấp trước khi sinh sản là một vấn đề rõ ràng bởi vì nó làm chậm tuổi dậy thì, phối giống, và đẻ. Tăng trung bình hàng ngày giữa 0,683-0,774 kg là cần thiết để đạt được một mục tiêu trọng lượng phối giống là 364 kg lúc 14 tháng tuổi cho bê thuộc giống to con. Do đó, tăng trọng hàng ngày trung bình dưới 0,683 kg là không thể chấp nhận và hơn thế gây tốn kém bởi vì nó làm chậm quá trình thành dục.

Tăng cân nhanh là nguy hiểm. Tăng trọng hơn 0,91kg/ ngày đối với bê thuộc các giống bò to con trước tuổi dậy thì gây nên rủi ro. Bê cái Holstein nếu cho ăn để đạt được 1,274 kg /ngày sẽ có tuyến vú lớn hơn, nhưng tổng tuyến mô sữa ít hơn do tăng mỡ vú (chất béo) so với bê có mức tăng 0,637 kg /ngày (Sejrsen et al. 1982). Tốc độ tăng trưởng không ảnh hưởng đến thành phần vú khi các xử lý tương tự được áp dụng cho bê sau tuổi dậy thì. Bò hậu bị trước dậy thì từ 19 đến 39 tuần tuổi nếu tăng 1 kg /ngày ở chu kỳ đầu sẽ cho sữa quy ra mỡ hơn 7,1% so với bò tăng 0,41kg /ngày (Lammers et al. 1999).

Tăng trọng quá mức trước tuổi dậy thì có thể làm giảm lượng sữa chu kỳ sữa đầu và sau do ít mô tiết sữa tuyến vú. Tuy nhiên, các nhà phê bình cho rằng bê trong những nghiên cứu này đã được cho ăn để đạt được mức tăng trọng cao bất thường gần như vỗ béo. Nghiên cứu này luôn ủng hộ quan điểm rằng tăng trọng lớn trước tuổi dậy thì sẽ làm giảm sự phát triển của vú, mặc dù tăng trọng lớn hơn mức bình thường xẩy ra trong nhiều nghiên cứu. Sejrsen và Purup (1997) đề nghị cần có nghiên cứu thêm để hiểu được mối quan hệ giữa dinh dưỡng và sự phát triển của tuyến vú. Một số nghiên cứu hạn chế cho thấy có sự tương quan giữa tăng trọng nhanh trước khi dậy thì và phát triển tuyến vú bị suy giảm khi bê được cho ăn thức ăn có đạm thô cao (VandeHaar 1997; Waldo et al 1998). Nghiên cứu thêm cần thiết đối với đề nghị mức tăng trọng  cao hơn 0,819 kg /ngày ở bê sữa trước tuổi dậy thì. Các khuyến nghị đó cho rằng tăng trọng trung bình hàng ngày cho phát triển bê sữa trước khi đến tuổi dậy thì nên nằm giữa 0,683 và 0,819 kg.

Bảng 2. Chi phí thức ăn (ngô ủ, cỏ khô và đậu tương) cho bê cái hậu bị từ khi sinh đến đẻ lứa 1 để đạt tăng trọng  0,592 – 0,683 và 0,774 kg/ngày

Khối lượng

cơ thể (kg)

Tăng trọng

(kg)

Tuổi

(tháng)

Chi phí thức ăn

/ngày (VND)

Chi phí thức ăn

/giai đoạn (VND)

Chi phí thức ăn

cộng dồn

 (VND

Tỉ lệ% / *

giai đoạn

46-68

0,546

1,4

      22 080

     920 000

920 000

1 ,7

68-91

0,819

2,3

      10 350

     287 500

1 207 500

2 ,2

91-182

0,592

7,4

         8 280

 1 273 740

2 481 240

4 ,5

182-273

0,592

12,6

      13 570

 2 087 710

4 568 950

8 ,3

273-364

0,592

17,7

      17 250

2 653 740

7 222 690

13 ,1

364-455

0,592

22,8

      16 560

2 547 710

9 770 400

17 ,8

455-546

0,592

28,0

      20 930

3 220 000

2 990 400

23 ,6

546-614

0,592

31,8

      24 380

2 815 890

15 806 290

28 ,8

 

46-68

0,546

1,4

      22 080

     920 000

    920 000

1 ,8

68-91

0,819

2,3

      10 350

87 500

1 207 500

2 ,3

91-182

0,683

6,8

         9 200

 1 226 590

2 434 090

4 ,7

182-273

0,683

11,2

      14 490

1 932 000

4 366 090

8 ,5

273-364

0,683

15,6

      17 940

2 392 000

6 758 090

13 ,1

364-455

0,683

20,1

      17 710

2 361 410

9 119 500

17 ,7

455-546

0,683

24,5

      21 390

2 852 000

11 971 500

23 ,3

546-614

0,683

27,8

      26 450

 2 645 000

  14 616 500

28 ,4

 

46-68

0,546

1,4

      22 080

     920 000

920 000

1 ,9

68-91

0,819

2,3

      10 350

     287 500

1 207 500

2 ,5

91-182

0,774

6,2

         9 890

1 163 570

2 371 070

4 ,9

182-273

0,774

10,2

      15 410

1 812 860

4 183 930

8 ,6

273-364

0,774

14,1

      19 090

 2 245 950

6 429 880

13 ,2

364-455

0,774

18,0

      18 630

 2 191 670

8 621 550

17 ,7

455-546

0,774

21,9

      22 770

2 678 810

  11 300 360

23 ,2

546-614

0,774

24,8

      27 830

 2 454 560

13 754 920

28 ,2

 

* Tỉ lệ chi phí thức ăn trong giai đoạn

6.    Tuổi phối giống bê hậu bị

Một thời điểm lý tưởng để đánh giá bê về trọng lượng cơ thể, chiều cao vây, và tình trạng cơ thể đó là lúc phối giống. Khác với giai đoạn trước cai sữa, thời điểm này là dịp hiếm mà bê cái được quan sát rõ nhất. Bê cần phải được phối giống kịp thời,  (14-15 tháng là tuổi trung bình phối giống đầu tiên) để đảm bảo việc thay thế đàn được tiến hành thành công. Có thai ở 14 -15 tháng là cần thiết để bê hậu bị có thể đẻ lúc 23-26 tháng tuổi. Bê cần phải tăng cân (0,683-0,91 kg /ngày) và có tình trạng cơ thể thích hợp để đạt được tỷ lệ thụ thai cao. Khẩu phần nên được cân bằng về năng lượng (64-68%  TDN, hoặc tổng số chất dinh dưỡng tiêu hóa) và protein (13-15%).

Các trục trặc thụ thai xảy ra khi bê cái mắc sự cố giảm cân hoặc ở trong tình trạng cơ thể kém. Cân bằng khẩu phần ăn là rất quan trọng để tránh những trục trặc này. Bê rời khỏi chuồng nhốt cũng có thể vấp phải sự cố giảm cân và tỷ lệ thụ thai thấp. Các nhà nghiên cứu tại Virginia Tech phát hiện thấy rằng bê giảm 27,3 kg trong thời gian 1- 2 tháng sau khi được mang đi khỏi chuồng nuôi ra nuôi tại đồng cỏ. Việc phải tăng vận động trên đồng cỏ là nguyên do làm giảm lượng năng lượng dành cho sinh trưởng. Vì vậy, để tránh các trục trặc phối giống, việc di chuyển này nên xảy ra hoặc trước khi rời khỏi chuồng hoặc 2 tháng sau khi ra đồng cỏ.

7.    Từ phối giống tới đẻ

Loại bò được ưu tiên thấp nhất ở trang trại bò sữa thường chính là bê hậu bị đã phối giống. Nhóm bê này không đòi hỏi việc quản lý chuyên sâu như bê con. Ngày đẻ đã được định, vì vậy mục tiêu chính là cho chúng đạt đủ trọng lượng để lúc đẻ nó cũng đạt được trọng lượng và thể trạng mong muốn. Tăng trung bình hàng ngày phải là 0,774 – 0,956kg trong suốt thời kỳ mang thai, nếu bê được phối giống lúc nặng 341-387 kg. Tăng trọng trên 0,91kg/ngày là có thể chấp nhận đối trong 6-7 tháng chửa đầu. Tuy nhiên mức tăng này cần phải tránh tăng trọng quá 0,91kg/ngày nên tránh 1-2 tháng trước khi đẻ để ngăn chặn các sự cố đẻ và sau sinh vì sinh trưởng của thai và vú tăng tốc trong thời gian này. Ngoài ra, bò quá béo (điểm thế tạng > 4,0 trên thang điểm 5) lúc đẻ có thể dẫn đến vấn đề sức khỏe sau khi sinh.

8.    Giám sát tăng trọng lượng

Rất cần thiết phải giám sát khối lượng và chiều cao của bê do tăng trọng được đề xuất giao động trong  khoảng hẹp là 1,5-1,8 pound / ngày. Vì thế cân, thước đo luôn luôn cần được chuẩn bị sẵn để cân và đo bê ở tất cả các lứa tuổi. Hãy làm việc này khi chúng ta có dịp xử lý việc gì đó như tẩy giun, tiêm phòng, và phụ tinh…. Hai số đo trên được đề xuất cho bê cái Holstein ở các lứa tuổi khác nhau (Bảng 3).

Bảng 3. Đề xuất về khối lượng và chiều cao vây và chỉ số hai số đo đó cho bê cái Holstein.

Tuổi (tháng)

Khối lượng (kg)

Cao vây (cm)

Chỉ số khối lượng/cao vây

1

59-61

81-84

0,735-0,728

2

81-86

85-89

0,946-0,962

3

103-111

89-94

1,150-1,178

4

125-136

94-99

1,335-1,380

5

147-161

98-103

1,507-1,570

6

169-186

101-107

1,674-1,740

7

191-211

104-110

1,831-1,915

8

213-236

107-113

1,986-2,085

9

236-260

110-116

2,138-2,242

10

258-285

112-119

2,304-2,405

11

280-310

115-121

2,427-2,567

12

302-335

118-123

2,569-2,722

13

324-360

120-125

2,708-2,874

14

346-385

121-127

2,852-3,031

16

390-435

124-130

3,137-3,345

18

435-485

128-132

3,411-3,662

20

479-534

130-135

3,699-3,968

22

523-584

131-140

3,985-4,182

24

567-634

133-144

4,279-4,417

 

Bê dù đạt được mục tiêu về thể trọng nhưng nếu cao vẫn không đủ thì lý do có thể là bê béo quá (tức điểm thể trạng cao). Điểm thể tạng có thể khó xác định khách quan, đặc biệt là đối với bò non.

Có thể thay thế điểm thể tạng bằng “Chỉ số thể trọng/chiều cao”. Bằng cách này có thể tránh được tính chủ quan trong việc giám định thể tạng. Chỉ số này được nêu trong Bảng 3. Do có sự biến động lớn trong đàn về chỉ số này, nên người chăn nuôi  hãy theo dõi các nhóm, chứ không từng con. Nếu chỉ số này thấp, chứng tỏ cho thấy tình trạng cơ thể kém, cần phải xem lại chế độ ăn. Một tình trạng phổ biến đó là chế độ ăn uống trong nhiều trường hợp thiếu đạm,  thừa năng lượng. Khẩu phần chứa nhiều ngô ủ chua cũng có thể dẫn đến tình trạng đó.

9.    Khẩu phần

Khẩu phần xây dựng để đạt được tăng trọng 0,82 kg/ngày là đủ để đạt được mục tiêu thể trọng lúc 24 tháng trước khi đẻ  là 612 kg. Ba khẩu phần mẫu cho bò cái được trình bày trong Bảng 4. Trong các khẩu phần này chất lượng thức ăn thô ở mức trung bình và thức ăn hạt <= quá 1,68 kg/ngày. Thức ăn thô xanh chất lượng cao đòi hỏi phải bổ sung thức ăn hạt ít hơn. Số lượng lớn các loại thức ăn hạt là không cần thiết để đạt được mức tăng trọng cao. Các thành phần thức ăn quan trọng cần cân bằng trong khẩu phần, hoặc cung cấp các chất dinh dưỡng theo tỷ lệ thích hợp. Một khẩu phần cân đối trong năng lượng và protein thúc đẩy giá cao tăng trọng thịt nạc. Tuy nhiên, một suất ăn cao năng lượng nhưng thiếu protein có thể dẫn đến tăng trọng cao, nhưng điểm thể tạng vượt quá mức. Vì vậy, khẩu phần cần phải được đánh giá định kỳ, như là khẩu phần cho bò vắt sữa.

Cả ba khẩu phần mẫu có chứa một loại khoáng chất với ionophores, hoặc BovatecTM hoặc RumensinTM.  Ionophores cải thiện chuyển hóa năng lượng và sử dụng protein trong dạ cỏ, dẫn đến cải thiện tăng tròng và / hoặc hiệu quả sử dụng thức ăn. Ngoài ra, ionophores có tính chất giảm cầu trùng (giảm và kiểm soát Coccidia) nên khi cho ăn với lượng được đề xuất (200 mg / ngày) và cũng không đắt lắm (khoảng 276 VND /ngày).

Một số nhà chăn nuôi có được lợi nhuận trong việc nuôi bê trên đồng cỏ. Chi phí thức ăn có thể được giảm với đồng cỏ mà không làm giảm tăng trọng hàng ngày. Để đạt được tăng trọng cao, đồng cỏ phải được thâm canh. Chăn thả luân phiên có thể cho phép bê được liên tục hưởng thụ cỏ non, chất lượng cao. Cỏ trưởng thành  kém chất lượng và làm giảm sinh trưởng của bê. Bê cái Holstein (182 – 455 kg) chăn thả tại đồng cỏ tại Trung tâm sữa Virginia Tech đã đạt được tăng trọng trên 0,91 kg/ngày với 0,91 kg bột ngô và bột đậu nành có 16% protein thô. Tăng trọng được nâng bằng cách bổ sung thêm RumensinTM trong bột thức ăn đó. Các nhà nghiên cứu tại Đại học bang New Mexico (Lopez et al. 1999)  cho biết có thể đạt mức tăng trọng 0,796kg/ngày trên đồng cỏ hỗn hợp cỏ Kleingrass-cỏ linh lăng (không bổ sung) trong những tháng mùa hè (tháng 6-8).

Bảng 4. Khẩu phần cho bê Holstein nặng 273, 364 và 455 kg để đạt tăng trọng 819 kg/ngày

 

Thể trọng bê (kg)

Thành phần thức ăn

273

364

455

Ngô ủ*  (kg) - (lúc cho ăn)

6,83

8,19

9,10

Cỏ khô** (kg) - (lúc cho ăn)

3,64

4,55

5,46

Ngô hạt (kg) - (lúc cho ăn)

0,455

0,683

0,683

Bột đậu tương 48% (kg) - (lúc cho ăn)

0,91

0,91

1,001

Khoáng 2:1 (kg) - (lúc cho ăn)

0,0455

0,0455

0,0455

Protein thô (CP), % của vật chất khô

14,4

13,5

13,4

Tổng Ni tơ tiêu hóa (TDN), % của vật chất khô (DM)

64,7

64,5

64,0

Chất xơ không hoà tan trong acid (ADF), % của vật chất khô

31,6

32

32,7

* Ngô ủ: 67% TDN, 7,5% CP, 28% ADF, 38% DM; **Cỏ khô: 55% TDN, 10.4% CP, 45% ADF, 87% DM

10.  Giá trị kinh tế của 569 kg và 24 tháng

Điểm mấu chốt cho công việc kinh doanh bò thay thế là lợi nhuận. Những lợi ích mà thể trọng  569 kg sau đẻ lúc 24 tháng tuổi phải lớn hơn chi phí sản xuất mới có lợi nhuận. Hai câu hỏi phải được trả lời: 1) Liệu có lợi nhuận để cho ăn nuôi rồi đạt được 569 kg sau đẻ?, và 2) Cho mục tiêu khối lượng lúc đẻ, liệu có lợi nhuận để làm giảm tuổi đẻ xuống 24 tháng hoặc thấp hơn?

Liệu có lợi nhuận để bò đạt thể trọng lượng 569 kg sau đẻ? Lợi ích của việc này là tăng sản lượng sữa chu kỳ đầu. Sản lượng sữa tăng cần bù đắp cho chi phí thức ăn tăng lên. Thể trọng và tổng chi phí thức ăn tăng khi tăng trọng trung bình/ngày  tăng lên (Xem Bảng 5). Tăng trọng trung bình 1,7 pound / ngày đòi hỏi chi phí thức ăn cao hơn ($ 103,44 tăng) và thể trọng trước đẻ (nặng hơn 119 kg) so với tăng trọng 1,3 pound / ngày. Bê có thể trọng sau đẻ lứa 1 là 569 kg sản xuất hơn khoảng 455 kg sữa so với bê nặng <432 kg. Với giá (Người dịch: không rõ giá bán hay giá thành?)  sữa là 6066 VND/kg (= 12USD / cwt -100 bảng Anh), doanh thu bổ sung từ sữa sẽ là 60 659 VND ($ 120). Như vậy, sẽ có lợi nhuận để đặt được tiêu chí về thể trọng sau đẻ là  455 – 569 kg. Tuy nhiên, có rất ít lợi ích, và có thể gây tổn hại, nếu thể  trọng lượng sau đẻ vượt 592 kg.

Bảng 5. Chi phí thức ăn ước tính từ bảng 2 cho bê hậu bị lúc 28 tháng
nặng 614 kg với 3 chế độ ăn*

 

Tăng trọng / ngày (kg)

0,592

0,683

0,774

24 tháng tuổi

Tổng chi phí thức ăn (Triệu VND) **

         10,375

         11,219

         12,754

 

Thể trọng (kg)***

476

536

595

Thể trọng  614 kg

Tổng chi phí thức ăn (Triệu VND)

         15,807

         14,617

         13,755

 

Tuổi (tháng)

31,8

27,8

24,8

* Chế độ ăn từ cai sữa đến lúc đẻ để đạt tăng trọng: 0.592, 0,683 và 0,774 kg/ngày

 

** Tống chi phí từ sơ sinh đến lúc đẻ

     

*** Thể trọng trước đẻ

       
           

Liệu có lợi nhuận khi giảm tuổi đẻ đầu xuống  24 tháng hoặc ít hơn? Giảm tuổi đẻ lần đầu sẽ giảm tổng chi phí thức ăn để nuôi bê từ khi sinh ra cho đến khi đẻ,  với giả thiết đạt được một thế trọng tương tự khi đẻ (Bảng 5). Bê tăng trọng  0,774 kg /ngày sẽ trẻ hơn 7 tháng ở tuổi đẻ lần đầu với chi phí thức ăn ít hơn 2,05 triệu VND so với mức tăng 0,592 kg /ngày. Mặc dù bê đẻ sớm hơn tiêu tốn một khoản tiền thức ăn hàng ngày cao hơn, nhưng tổng chi phí thức ăn lại thấp hơn. Riêng một mình điều này đã là một động lực kinh tế để giảm độ tuổi sinh bê đầu tiên, bởi vì sản lượng sữa sẽ tương tự nếu thể trọng con bò cũng tương tự. Giảm tuổi đẻ đầu cũng làm tăng số lượng bê thừa ra để bán (Bảng 1). Bò đẻ sớm, sẽ bù lại (qua bán sữa) chi phí nuôi thời gian ngắn hơn đẻ muộn. Xem xét tất cả những lợi thế, ta thấy ít nghi ngờ việc mang lợi nhuận do giảm tuổi sinh bê đầu. Tuy nhiên, tuổi đẻ ít hơn 22 tháng có thể không khả thi … vì đòi hỏi tăng trọng quá mức.

11.                       Tóm lược

Sự trưởng thành của bê hậu bị để thay thế là rất quan trọng bởi vì khi trở thành bò sữa lứa 1 nó chiếm từ 30% (theo DRMS, Raleigh, NC) đến 38% (theo Dịch vụ máy tính DHI, Provo, Utah) đàn bò vắt sữa. Nghiên cứu cho thấy rằng mục tiêu đối với bò hậu bị lúc đẻ nặng 569 kg và 23-24 tháng tuổi và điều này có thể mang lại kinh tế. Để đạt được mục tiêu này, người nuôi bò hậu bị phải theo dõi  tăng trọng và thường xuyên đánh giá khẩu phần. Kiểu soát hiệu quả nuôi và cân đối khẩu phần để để đảm bảo cho vật nuôi được nhận dinh dưỡng đủ nhưng không thừa sẽ giúp đảm bảo bê lớn vừa phải qua đó có thể phát huy tiềm năng của chúng. Việc quản lý hợp lý đàn bê hậu bị là một lĩnh vực của hầu hết các hoạt động chăn nuôi bò sữa, trong đó chi phí sản xuất có thể giảm và năng suất đàn và lợi nhuận tăng lên.

Võ Văn Sự dịch. Vovansu.vcn@gmail.com  Nguồn: Management Considerations in Holstein Heifer Development. 18 July 2000.By Michael Looper, Extension Dairy Specialist, Greg Bethard, Technical Services Specialist, Monsanto Dairy Business, College of Agriculture and Home Economics. http://www.thecattlesite.com/articles/734/management-considerations-in-holstein-heifer-development/#sthash.LBy82ie9.dpf

Nguồn Viện Chăn nuôi

Các tin liên quan
Tin nổi bật a

Số 4A181 Thanh Niên, ấp 4, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, TP HCM
Tel: 02.837.685.374;      Fax: 02.837.685.374

Email: ttqlkdg.snn@tphcm.gov.vn
@Copyright 2017 TTGCTVNTS, All right reserved