Tìm kiếm
Trang chủ Góp Ý Liên Hệ a a
Hoạt động của đơn vị

Giới thiệu đơn vị
Biển đảo Việt Nam
Xét tuyển viên chức
Văn bản chuyên ngành
Tin tức chuyên ngành
Xúc tiến nông nghiệp
Hội chợ-Hội thi giống
Chương trình, Đề án
Mô hình kinh nghiệm
Tư liệu nghiên cứu
Chuyển dịch CCSXNN
Cơ sở sản xuất giống
Ngành hàng thịt lợn của Hồng Kông: Xuất nhập khẩu của Việt Nam

Tóm tắt: Chăn nuôi và thương mại các sản phẩm thịt lợn của Hồng Kông có quan hệ chặt chẽ thương mại với Việt Nam về cùng loại. Hồng Kông nhập khẩu thịt lợn đông lạnh của Việt Nam qua năm 2013, 2014, 2015 giảm tương ứng là 8.568 tấn, 7.654 tấn, 9.212 tấn và giai đoạn từ tháng 7/2015 đến 7/2016  tăng từ 4.893 tấn lên 6.560 tấn, tăng 34,07%. Tuy nhiên, các mặt hàng thịt lợn đông lạnh, đặc biệt là nội tăng lợn nhập khẩu từ các nước khác vào Hồng Kông và tái xuất sang Việt Nam giản dần tương ứng qua các năm 2013, 2014, 2015 là 81.887 tấn 94.838 tấn, 62.864 và từ tháng 7/2015 đến 7/2016 giảm 61,09% từ 32.652 tấn xuống còn 12.706 tấn. Bài báo này cung cấp chi tiết các thông tin thương mại về sản phẩm thịt lợn ở thị trường Hồng Kông để các đối tác ngành chăn nuôi quan tâm cấp nhật thông tin để có kế hoạch sản xuất kinh doanh chủ động và hiệu quả hơn.

1.    Chăn nuôi lợn ở Hồng Kông

Hồng Kông chỉ có 43 trang trại lợn, có quy mô hàng năm khoảng 86.000 con, chiếm khoảng 6% tổng sản nguồn cung. Trung Quốc lục địa cung cấp khoảng 94% lợn nguyên con cho Hồng Kông để giết mổ, chế biến. Nguồn cung cấp lợn nguyên con cho Hồng Kông từ trên 200 trang trại lợn đã đang ký ở Trung Quốc lục địa thông qua 03 cơ quan.

Đối với năm 2016, sản lượng thịt lợn của nước này được dự báo sẽ giảm trên 7%, đạt 125.000 tấn do giảm nguồn cung cấp lợn nguyên con từ Trung Quốc lục địa. Trong nữa năm 2016, tổng đàn lợn ở Trung Quốc lục địa đã tăng sẽ giúp ổn định giá thịt lợn và dẫn đến nguồn cung lợn nguyên con cho Hồng Kông cũng tăng. Nếu vậy, sản lượng thịt lợn của nước này trong năm 2017 có thể sẽ đạt 130.000 tấn.

Tổng đầu lợn của Trung Quốc lục địa giảm khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2015. Thị trường phản ứng lại nguồn cung thu hẹp, giá lợn tăng trong 7 tháng đầu năm 2016. Giá bán buôn lợn nguyên con từ tháng giêng đến tháng 6 năm 2016 tăng 8%, đạt 3.499 triệu USD (xem Bảng 2) so với cùng kỳ năm 2015. Giá bán lẻ đối với thịt tươi sống thậm chí tăng cao hơn từ 16 lên 18% (xem Bảng 3).

2.    Phát hiện thấy tồn dư kháng sinh thú ý bị cấm

Tháng 11 năm 2015, Nhà chức trách Hồng Kông đã khảng định rằng chloramphenicol, một chất cẩm trong thực phẩm theo quy định của ngành y tế (trong gia súc và gia cầm) khi lấy mẫu từ 20 con lợn nuôi ở địa phương và đã lập tức tiêu hủy sau đó.

Đầu tháng 6 năm 2016, các chất tồn dư thuộc nhóm beta-agonist đã xét nghiệm thấy trong mẫu nước tiểu của 319 con lợn nhập khẩu từ tỉnh Giang Tây của Trung Quốc. AQSIQ, Cơ quan thanh tra của Trung Quốc đã tự động đình chỉ xuất khẩu tất cả lợn nguyên con từ tỉnh Giang Tây vào Hồng Kông. Theo thống kê, tỉnh này xuất khẩu khoảng 20% lợn nguyên con vào Hồng Kông. Lần phát hiện chất tồn dư beta-agonist trong lợn xuất khẩu nguyên con từ Trung Quốc vào Hồng Kông là năm 2012.

Bảng 1.  Cung cấp và tiêu dùng đối với lợn nguyên con (đơn vị: con)

 Chỉ tiêu            2012    2013    2014    2015    Ước tính 2016

Sản xuất trong nước      97.477 96.488 87.432 85.733 85.000

Nhập khẩu       1.540.756        1.575.810        1.624.926        1.583.398        1.450.000

Tổng    1.638.233        1.672.298        1.712.358        1.669.131        1.535.000

Nguồn: Phòng Nông nghiệp, Thủy sản và Bảo tồn của Hồng Kông.

Bảng 2.  Giá trung bình bán buôn thịt lợn hơi ở Hồng Kông  (USĐ/tấn)

            2013    2014    2015    2015    2016    Thay đổi (%)

 

                                                Jan – Jun         

Lợn hơi 2.871   2.678   2.899   2.644   3.499   8%

                                                                       

Nguồn: Phòng Điều tra và Thống kê Hồng Kông.

3.    Chính sách

Hồng Kông đã thiết lập mức tồn dư lớn nhất cho ractopamine trong thực phẩm. Thay cho tiêu chuẩn của chính nước này, Hồng Kông đã sử dụng luôn tiêu chuẩn của Codex cho mức tồn dư thuốc thú y trong thịt bò là 10 ppb thấp hơn tiêu chuẩn của Hoa Kỳ 30 ppb. Hiện nay, các mẫu xét nghiệm ngẫu nhiên đối với mẫu thịt bò do các nhà chức trách Hồng Kông lấy từ các cửa hàng bán lẻ chứng minh rằng mẫu thịt bò của Hoa Kỳ có tồn dư Ractopamine lớn hơn 10 ppb vì vậy nhà chức trách đã phải công bố báo chí về kết quả với cách nói là mức tồn dư đó chưa gây ra rủi ro về sức khỏe của cộng đồng.

4.   Tiêu thụ

Mặc dù gặp phải duy thoái kinh tế và giá bán lẻ giảm, giá bán thực phẩm ở Hồng Kông vẫn tăng. Trong 8 tháng đầu năm 2016, giá bản lẻ thực phẩm tăng trung bình 2,2% và tính từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 8/2016 giá thực phẩm tăng trên 8,8%.

Thịt lợn vẫn là mặt hàng thực phẩm ổn định hơn các thực phẩm khác như thịt bò, thịt gia cầm. Tiêu thụ thịt lợn năm 2016 dự báo tăng 2% so với năm 2015, tăng thêm 545.000 tấn. Nếu kinh tế được phục hồi, tiêu dùng thịt lợn năm 2017 có thể tăng lên 570.000 tấn.

Tiêu thụ thịt lợn ở Hồng Kông cực kỳ nhạy cảm với giá, sự thay đổi giá ảnh hưởng ngày tới sự lựa chọn của người tiêu dùng. Ví dụ năm 2015, khi gia thịt lợn hơi bán buôn tăng thêm 8% từ 2.678 USD/tấn lên 2.899 USD/tấn, lập tức người tiêu dùng quay sang tiêu dùng thịt ướp lạnh và đông lạnh, tăng từ 66% lên 69/5 trong khi giá thịt tươi sống giảm từ 34% xuống 31%.

Bảng 3. Giá bán lẻ trung bình của thịt lợn so với thịt bò và thịt gà (USD/kg)

Loại thịt            2013                2015    2015    2016    % change

                        2014                Jan – June       

Gà nguyên con đã giết mổ         12.13   12.93   15.24   14.90   15.93   7%

Thịt bò chất lượng cao  20        20.01   20.01   19.99   20.34   2%

Thăn bò            16.76   16.92   17.15   17.08   17.33   1%

Thịt lợn nạc       8.50     8.24     8.51     8.14     9.43     16%

Sườn lợn          8.73     8.65     8.93     8.50     10.04   18%

Nguồn: Phòng Nông nghiệp, Thủy sản và Bảo tồn của Hồng Kông.

5.   Thương mại thịt lợn

Tính theo thịt xẻ, tổng lượng nhập khẩu thịt lợn năm 2016 và 2017 (kể cả tái xuất) tương ứng tăng 6% đặt 420 ngàn tấn và tăng 5% đạt 440 ngàn tấn, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thịt lợn tăng và tổng đàn lợn  nuôi tại nước này để sản xuất thịt tươi ngày càng giảm. lại n

a)  Xuất khẩu và Tái xuất khẩu

Hồng Kông nhập khẩu năm 2015 1,12 tỷ USD các sản phẩm thịt lợn (xem Bảng 4&5). Trong 7 tháng đầu năm 2016, nước này đã nhập khẩu thịt lợn tăng 28% về khối lượng và 12% về giá trị vì tái xuất sang Trung Quốc lục địa. Do điều kiện thương mại được cải thiện qua năm 2015 nên tái xuất sản phẩm thịt lợn sang Trung Quốc lục địa tăng 242% trong khí tái xuất các sản phẩm thịt lợn sang Việt Nam giảm 61%, gây ra tỷ lệ tái xuất tổng thể các thị trường tăng trên 56% giữa tháng 1 và tháng 7 năm 2015 và tháng 1-tháng 7 năm 2016. Trung Quốc trở lại vị trí đứng đầu quốc gia tái xuất khẩu sản phẩm thịt lợn từ Hồng Kông với thị phần chiếm 46%.

b)  Thay đổi thị phần do chênh lệch giá thịt lợn

Chên lệch giá thịt lợn giữa các nước xuất khẩu vào Hồng Kông đã ảnh hưởng đến thị phần năm 2016. Do giá thịt lợn xuất khẩu của Trung Quốc tăng 13%, Brazil và Hoa Kỳ giảm tương ứng là 22% và 37% trong 7 tháng đầu năm 2016 (xem Bảng 6). Hiện nay, Brazil là nước cung cấp thịt lợn lớn nhất cho Hồng Kông theo khối lượng, với thị phần là 31% so 19% trong năm 2015. Về giá trị, Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp thịt lợn lớn nhất cho Hồng Kông, đạt 212 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2016, chiếm thị phần 30%.

Bảng 4. Khối lượng nhập khẩu thịt lợn của Hồng Kông (đơn vị: tấn)

 

2013

2014

2015

15-Jul

16-Jul

%16/15

 Thị phần

2016

_Tổng

443.712

442.016

399.675

211.670

271.796

28,41

100%

Trung Quốc

102.942

115.168

104.850

65.476

46.942

-28,31

17%

Brazil

91.997

77.661

79.938

41.190

83.117

101,79

31%

Đức

28.467

38.263

33.635

15.063

17.309

14,91

6%

Hoa Kỳ